Chuyển đến nội dung chính

02. Lạm bàn về Đại lý ủy quyền

 Đại diện hay đại lý độc quyền là hai hình thức hầu như đòi hỏi sự tin tưởng cao nhất từ hai phía: Hãng và đối tác địa phương của mình. Vì nếu không, cả hai đều có thể mất đi cơ hội mở rộng thị trường, hoặc thị trường rơi vào các Hãng khác.

Ngành điện, tự động hay bất cứ các ngành thuộc về engineering, khi các chức năng cơ bản, tin cậy, bền bỉ trong môi trường công nghiệp phải là yếu tố hàng đầu, thì việc thay đổi thói quen sử dụng sang một Hãng khác rất khó khăn. Quan điểm của kỹ sư vận hành và bảo trì là quan điểm thay like-for-like hay apple-for-apple. Khi thiết bị đang ổn định, chẳng có lý do nào kỹ sư lại đánh cược nghề nghiệp của mình bằng đề xuất thay đổi thiết bị sang Hãng khác. Kỹ sư dự án và phát triển dự án cũng tư duy "technology proven", nên họ sẽ thiết kế theo kinh nghiệm tốt nhất để đảm bảo dự án kịp tiến độ và chất lượng.

Với hình thức Đại lý ủy quyền (Authorization distributor), Hãng cũng vẫn lựa chọn theo các tiêu chí về thế mạnh và kinh nghiệm, khả năng cam kết đầu tư vào nguồn lực. Hình thức ủy quyền giảm thiểu khá nhiều rủi ro cho hãng khi không phụ thuộc vào 1 đại lý như hình thức độc quyền, nhưng lại tạo lên sự rắc rối về mặt thị trường. Mỗi đại lý là 1 chủ thể, có lợi ích riêng và tách biệt nhưng lại làm chung 1 sản phẩm, nên ưu tiên bán hàng sẽ khác nhau. Đa phần, nếu không kiểm soát tốt, Đại lý sẽ lại cạnh tranh trực tiếp với nhau về giá, vô hình chung làm giảm hình ảnh và uy tín của Hãng.

Với đại lý, rủi ro hiển hiện là mất quyền đại lý nếu không đạt doanh số cam kết. Chứng chỉ đại lý ủy quyền thường được cấp lại mỗi năm, chính điều này làm cho cam kết về dài hạn trở lên yếu ớt. Đại lý còn gặp 1 rủi ro nữa khi phải cạnh tranh với các đại lý khác. Có trường hợp tay trong tay ngoài, đại lý A xây dự án từ đầu nhưng đại lý B lại được hỗ trợ khi tham gia đấu thầu.

Khi trả lời câu hỏi về hình thức hợp tác, hãy nhìn vào các Hãng đối thủ, họ đang làm thế nào, thị trường được kiểm soát hay rối loạn ra sao... để tìm được cách thức phù hợp. Hình thức hợp tác càng lỏng lẻo, càng ít cam kết, thì khó có thể đòi hỏi đối tác làm thật nhiều. Hãng muốn thị trường phát triển nhưng ai cũng muốn hợp tác, mở rộng theo bề nổi mà không theo bề sâu, không cam kết rõ ràng thì chẳng đối tác nào dám đi làm market cho Hãng cả. Đây là câu hỏi lớn của những người làm chiến lược bán hàng, chỉ cần đi sai 1 năm, thị trường đã đi xa 1 dặm, thói quen đã hình thành thì khó mà thay đổi.

Hình thức đại lý ủy quyền này sâu xa mang rất nhiều mâu thuẫn cho cả hai bên nếu không kiểm soát tốt mối quan hệ và đội ngũ sale. Kết hợp giữa độc quyền 1 dải sản phẩm (hay ngành) + ủy quyền đại lý là 1 hình thức lai, pha trộn có thể là hình thức hiệu quả hơn.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Phát triển bản vẽ P&ID

Như đã đề cập, P&ID là bản vẽ đại diện cho quy trình công nghệ của nhà máy và cách thức vận hành của các thiết bị hay quy trình chính, quy trình xử lý nào trước, quy trình nào kế tiếp theo sau, và chúng được nối với nhau bằng đường ống gì, vật liệu gì, chịu được các điều kiện vận hành áp suất, nhiệt độ, đặc tính lưu chất ra sao. Khi phát triển dự án, bản vẽ này đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động thiết kế khác, bao gồm thiết kế chi tiết và các tài liệu vận hành. P&ID cũng là công cụ để các kỹ sư khác chuyên môn, khác nhóm có thể nói chuyện với nhau dễ dàng hơn. P&ID thường được phát triển từ PFD, bảng tính cân bằng khối lượng (mass balance) và các yêu cầu về điều khiển nhà máy. Để phát triển bản vẽ P&ID, trong nhóm thiết kế cần có kỹ sư Công Nghệ và kỹ sư đo lường và điều khiển. Tuy nhiên, kỹ sư công nghệ sẽ đóng vai trò là người kiểm soát chất lượng, phê duyệt và kiểm soát các phiên bản của bộ P&ID. Các hoạt động khi phát triển P&ID như HAZOP (h...

Điện toán đám mây (cloud), điện toán sương mù (fog) và điện toán biên (edge)

 Có lẽ chúng ta đã nghe rất nhiều về điện toán đám mây (cloud), về internet vạn vật IoT do tất cả các thiết bị hàng ngày, các dịch vụ internet đều lưu trữ dữ liệu trên đám mây. Nói một cách khác, điện toán đám mây bao gồm các dịch vụ điện toán như lưu trữ data, các dịch vụ máy chủ (servers), các thuật toán phân tích và thông minh dựa trên nền tảng Internet. Với mạng internet, việc chậm trễ trong truy cập dữ liệu do tốc độ và băng thông mạng không ảnh hưởng quá lớn đến an toàn, các ứng dụng trên nến tảng đám mây đều cho độ trê tương ứng. Tuy nhiên, trong sản xuất và trong quy trình công nghệ sản xuất, việc "chậm một giây, đi một dặm" là chuyện có thể xảy ra. Thử tưởng tượng áp suất gia tăng đột ngột trong bồn, mà vài phút sau phòng điều khiển trung tâm mới phát hiện ra, thì hậu quả sẽ thế nào? Theo mô hình ISA95, lớp 0 (level 0 - production process) thì thời gian đáp ứng từ micro giây đến mili giây. Lớp này tương đương với các cảm biến và thiết bị đo, đây là lớp thấp nhất. Tươ...

Độ chính xác (Accuracy)

Theo định nghĩa của ISA (International Society of Automation), độ chính xác (Accuracy) trong thiết bị đo lường là mức độ phù hợp của giá trị chỉ thị so với giá trị chuẩn được chấp nhận hay so với giá trị lý tưởng Độ chính xác của giá trị đo (Accuracy, measured) được định nghĩa là mức độ sai khác (dương hay âm) lớn nhất quan sát được trong quá trình đo   dưới điều kiện hoạt động   cụ thể và phương pháp đo cụ thể Vậy khi nói đến độ chính xác, cần lưu ý đến các yếu tố sau: Các điều kiện vận hành cụ thể (specified conditions) như điều kiện về nhiệt độ, áp suất, lưu lượng,… Phương pháp đo hay quy trình đo cụ thể (specified procedure) Trong đo lường công nghiệp, rõ ràng khái niệm độ chính xác là mối quan tâm chính của kỹ sư đo lường và tự động. Bởi lẽ, đo lường chính xác thì mới điều khiển chính xác 1 quá trình, qua đó tối ưu được đầu ra của quá trình điều khiển. Tuy nhiên độ chính xác và sai số gây ra khá nhiều nhầm lẫn và rắc rối trong quyết ...